Văn hóa ứng xử công sở

VĂN HÓA ỨNG XỬ NƠI CÔNG SỞ

                            

TS. Nguyễn Thị Tố Quyên

              Phó trưởng Khoa Xã hội học

                                           Học viện Báo chí và Tuyên truyền

         

Trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người, các cá nhân trong xã hội luôn phải tìm cách thức ứng với môi trường xã hội và hợp tác với nhau để cùng tồn tại và phát triển. Sự tương tác với nhau trong các hoạt động sống tạo nên các nhóm xã hội như nhóm bạn bè, nhóm đồng nghiệp…và cũng tạo nên những sắc thái văn hóa riêng của từng nhóm xã hội. Công sở - là nơi công chức, viên chức làm việc, là nơi thực hiện các vai trò nghề nghiệp của các cá nhân; ở đó mỗi cá nhân là một khâu thực hiện một nhiệm vụ của cơ quan đơn vị. Cũng có thể hiểu công sở là một cơ quan có chứng chỉ pháp nhân, mà ở đó công chức, viên chức đến đó làm việc lao động hưởng lương và có những nghĩa vụ trách nhiệm nhất định. Do vậy, công sở luôn có những quy chế, quy định riêng nhằm để mọi ngưòi tuân thủ, thực hiện, tạo nên sự thống nhất trong công việc, trong ý chí và hành động để đạt được những mục tiêu mà cơ quan, đơn vị đề ra. Để đạt được điều đó mỗi cán bộ, viên chức cần có nếp sống văn minh, ý thức và bản lĩnh. Công sở - ấy là chỗ để mọi người cùng lao động, suy nghĩ để hoàn thành chức năng, công việc được giao. Yêu cầu đặt ra đối với mỗi thành viên trong cơ quan là lòng tự trọng, ý thức tự giác, phục tùng kỷ luật, tôn trọng lẫn nhau để sao cho mỗi cá nhân phát huy hết được năng lực sáng tạo, tính độc lập, tự chủ trong công việc, giúp cho công việc cơ quan đạt chất lượng cao nhất. Đặc biệt, đó phải là nơi môi trường văn hoá được đề cao; ở đấy mỗi thành viên sống, làm việc trên tinh thần tự giác chấp hành quy định của cơ quan, sống có văn hóa, có kỷ cương, tôn trọng pháp luật và ứng xử có tình, có lý.

Xưa nay, chuyện ứng xử nơi công sở luôn muôn hình muôn vẻ. Mỗi người sống trong môi trường làm việc tập thể có những cách thức khác nhau để biểu đạt vốn văn hóa và thái độ sống của mình. Người thì tỏ ra lịch sự, kín kẽ đôi khi là giữ khoảng cách với đồng nghiệp, đối tác. Số khác lại rất cởi mở, ưa giao tiếp, thích tán chuyện và luôn quan tâm đến “mọi mặt” đời sống của đối phương.

          Tuy nhiên, dù lựa chọn cách thức nào để giao tiếp, mỗi cá nhân cũng cần phải tuân theo những chuẩn mực văn hóa ứng xử nhất định nơi công sở. Đó là thái độ tôn trọng, sự quan tâm đến đồng nghiệp một cách hài hòa, tránh khai thác quá sâu vào cuộc sống riêng tư của mỗi người, là sự từ tốn, khiêm nhường trong cách nói chuyện, là tác phong đĩnh đạc, nhất quán, văn minh trong từng hành vi, cử chỉ…

          Văn hóa ứng xử nơi công sở được xây dựng nên từ chính nền tảng văn hóa của mỗi cá nhân. Quay ngược trở lại khái niệm “văn hóa”, đây là khái niệm mang nội hàm rộng với nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.

          Trong lịch sử, khái niệm văn hóa xuất hiện rất sớm ở phương Đông cũng như ở phương Tây. Trong thời kỳ Cổ đại ở Trung Quốc, văn hóa được hiểu là cách thức điều hành xã hội của tầng lớp thống trị, dùng văn hóa, dùng cái hay, cái đẹp để giáo dục, giáo hóa con người, hướng con người đến những tình cảm, suy nghĩ, tư duy ở trình độ cao, mang tính xã hội.

          Ở nước ta gần 600 năm trước, Nguyễn Trãi cũng đã mơ ước một xã hội văn trị, lấy nền tảng văn hiến cao, lấy trình độ học vấn và trình độ tu thân của mỗi người làm cơ sở cho sự phát triển hài hòa của xã hội.

          Ở phương Tây, từ văn hóa bắt nguồn từ tiếng La tinh, có nghĩa là vun trồng, chăm sóc, tạo ra những sản phẩm từ sự tác động của con người vào tự nhiên nhằm phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của con người.

          Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”.

          Trong một công trình của GS. TSKH. Trần Ngọc Thêm, văn hóa được định nghĩa là “một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn và trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”. [1]

          Tuy có sự khác nhau nhất định nhưng nhìn chung các định nghĩa kể trên đều thống nhất ở một điểm, coi văn hóa là cái do con người sáng tạo ra, là đặc trưng căn bản, phân biệt con người với động vật và cũng là tiêu chí căn bản để phân biệt sản phẩm nhân tạo với sản phẩm tự nhiên.

          Văn hóa là cơ sở hình thành cách thức giao tiếp, hành vi hay đúng hơn là văn hóa ứng xử của mỗi cá nhân trong cuộc sống. Theo cuốn “Cẩm nang ứng xử bí quyết trẻ lâu sống lâu” của TS. Nguyễn Thế Hùng, ứng xử là phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định. Ứng xử là phản ứng có lựa chọn tính toán, là cách nói năng tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả cao nhất trong giao tiếp. [2]

          Văn hóa ứng xử là thế ứng xử, sự thể hiện triết lý sống, các lối sống, lối suy nghĩ, lối hành động của một cộng đồng người trong việc trong việc ứng xử và giải quyết những mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội từ vi mô (gia đình) đến vĩ mô (nhân gian).

          Văn hóa ứng xử còn được dùng để chỉ thái độ, hành vi của con người trong giao tiếp đời sống với những người xung quanh. Văn hóa ứng xử còn bao gồm cả cách ứng xử với thiên nhiên, với môi trường nhân văn xung quanh đời sống con người.

          Văn hóa ứng xử hiện hữu trong nhiều mối quan hệ khác nhau như: quan hệ vua tôi, quan hệ thầy trò, quan hệ vợ chồng, quan hệ cha mẹ với con cái và quan hệ bạn bè đồng nghiệp. Tuy nhiên, bài viết này chỉ chọn để cập đến văn hóa ứng xử trong mối quan hệ giữa bạn bè, đồng nghiệp. Đây là mối quan hệ xuất hiện phổ biến khi xã hội phát triển với nhiều cơ quan, công sở, nơi làm việc, đòi hỏi mỗi cá nhân phải có cách ứng xử phù hợp với môi trường công việc của mình để đảm bảo bầu không khí làm việc ổn định, tích cực, hướng đến mục tiêu là đem lại hiệu quả trong công việc và tạo ra thành quả lao động của mỗi cá nhân.

          Công sở hiểu chung nhất là nơi công chức, viên chức làm việc, là nơi các cơ quan, ban ngành, đơn vị hành chính, sự nghiệp, công ty, xí nghiệp… đứng chân. Nói rộng ra, công sở là nơi một cơ quan có chứng chỉ pháp nhân, mà ở đó công chức, viên chức đến để thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhà nước. Do vậy, công sở luôn có những quy chế, quy định riêng nhằm để mọi ngưòi tuân thủ, thực hiện, tạo nên sự thống nhất trong công việc, trong ý chí và hành động...

          Công sở là môi trường để các cá nhân được cống hiến sức lao động và năng lực nghề nghiệp của bản thân và vì vậy yêu cầu đối với công sở luôn được đặt lên hàng đầu. Một công sở đạt tiêu chuẩn phải là nơi có không gian làm việc tốt, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị hiện đại, đồng bộ, đáp ứng được đòi hỏi của người lao động và giúp hỗ trợ tối đa trong quá trình thực hiện công việc.

          Đặc biệt, đó phải là nơi mà môi trường văn hoá, môi trường giao tiếp, ứng xử được đề cao, mỗi thành viên sống, làm việc trên tinh thần tự giác chấp hành quy định của cơ quan, sống có văn hóa, có kỷ cương và tôn trọng pháp luật. Mỗi thành viên làm việc trong công sở phải là những người có lòng tự trọng, ý thức tự giác, biết tuân thủ kỷ luật, tôn trọng đồng nghiệp. Như vậy, mỗi cá nhân mới có thể phát huy được hết năng lực sáng tạo, sự độc lập, tự chủ trong công việc và giúp công việc đạt chất lượng cao nhất.

          Nội dung của văn hóa ứng xử nơi công sở tương đối rộng, bao gồm các khía cạnh như chào hỏi, trang phục, cách phát ngôn, việc nghe và nhận điện thoại và phong cách làm việc ở nơi công sở.

          Trước hết, văn hóa ứng xử nơi công sở thể hiện ở cách thức chào hỏi. Các cụ ta xưa có câu “Lời chào cao hơn mâm cỗ”. Câu nói tưởng chừng như có phần bông đùa khi đem so sánh “lời chào” - là thứ vô hình lại có thể có tầm ảnh hưởng và cao sang hơn “mâm cỗ” - thứ hữu hình, có sức hấp dẫn với người khác. Mâm cỗ thường chỉ xuất hiện trong những dịp đặc biệt nên được mọi người đánh giá cao và coi trọng nhưng lời chào còn cao sang và quý giá hơn. Điều này nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng và giá trị to lớn của lời chào trong cuộc sống. Thậm chí, mâm cỗ cũng không đủ sức hấp dẫn và níu kéo quan khách đến tham gia nếu gia chủ thiếu đi những lời chào mời đầy lịch sự và trân trọng.

          Lời chào chính là cách gây thiện cảm với người khác dễ dàng và chân phương nhất, đặc biệt khi đi kèm với một nụ cười thân thiện thì sức mạnh của lời chào càng được nhân lên. Đối với môi trường công sở, lời chào có ý nghĩa hơn bao giờ hết, là sợi dây liên kết các cá nhân, kết nối và mở đầu cho những câu chuyện, sự hỏi thăm của đồng nghiệp với nhau.

          Việc chào hỏi nơi công sở cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định như khi gặp nhau thì nam chào nữ trước, cấp dưới chào cấp trên, trẻ chào già trước, người mới đến chào người đã đến trước, người từ ngoài vào chào người ở trong phòng.

          Buổi sáng gặp nhau ở công sở nhất thiết phải chào nhau. Sau ngày lễ, sau chuyến đi công tác xa về, kèm theo lời chào còn cần những cái bắt tay, thăm hỏi.

          Gặp nhau ở hành lang cũng nên chào hỏi nhau, thay vì cúi mặt hoặc nhìn đi chỗ khác. Câu chào hỏi có thể muôn hình, muôn vẻ và được biến tấu linh hoạt trong từng hoàn cảnh cụ thể, sao cho người đối diện có thể dễ dàng tiếp nhận và coi đó là lời chào đầy thành ý: "Anh/chị khoẻ không ?"; "Đi đâu vội thế, anh/chị?”; "Thời tiết hôm nay nóng/lạnh quá anh/chị nhỉ?"...

Khi cấp trên bước vào phòng, nhân viên cần đứng dậy để chào hỏi hoặc xoay hẳn người lại, nhìn cấp trên một cách đầy thành ý và sự tôn trọng để chào. Khi cấp trên đi cùng khách thì phải chào cả cấp trên và khách và khi cấp trên đi ra thì nhân viên cũng phải đứng dậy chào.

Kết thúc một ngày làm việc, đồng nghiệp cùng phòng nên chào nhau và thậm chí là chào những người gặp ở nhà để xe. Kết thúc một tuần làm việc, các cá nhân nên dành cho nhau những lời chúc như "Chúc cuối tuần vui vẻ" để xoa dịu bầu không khí căng thẳng của công việc và thắt chặt mối quan hệ giữa đồng nghiệp với nhau.

Lời chào không chỉ là cấp dưới chào cấp trên mà chính những người lãnh đạo, quản lý cũng nên dành những lời chào, hỏi thăm thật tâm đến nhân viên, cấp dưới của mình, tránh việc hỏi thăm hình thức vì như vậy sẽ tạo hiệu ứng ngược, phản tác dụng. Lời chào, thăm hỏi của cấp trên thể hiện sự quan tâm, sâu sát đến đời sống của nhân viên và có tác dụng như một lời khen, sự khích lệ đối với nhân viên trong quá trình làm việc

Khi tiếp khách (cấp trên, cấp dưới hoặc ngang cấp) hoặc khách (nhân dân) đến liên hệ công việc, điều đầu tiên là chào bằng tiếng nói như: chào chú, chào bác, chào anh, chào chị…Nếu đang bận rộn hoặc khách đông thì có thể gật đầu chào chung hoặc chào bằng nụ cười thiện cảm (dù bất kỳ là người mà chúng ta không ưa thich); sau đó nên hỏi người đối diện là: Thưa chú (bác, cô, anh…) đến liên hệ việc gì? Cần làm gì?.... Nếu trong phòng làm việc thì chúng ta có thể mời khách ngồi ghế, rót nước mời xong mới bắt đầu giải quyết công việc cho khách.

Việc chào hỏi còn thể hiện qua cái bắt tay. Bắt tay là một cử chỉ chào nhau thân thiện và việc bắt tay như thế nào cho lịch sự và đúng phép tắc thì không phải ai cũng nắm rõ. Nếu cấp trên là nam giới chủ động bắt tay thì nhân viên nên đáp lại bằng một cái bắt tay chắc chắn. Nếu trường hợp cấp trên là nữ chủ động bắt tay chào hỏi, nhân viên cũng nên bắt tay một cách chắc chắn, thể hiện sự tôn trọng nhưng cần giữ lịch sự, không nên bắt tay quá lâu và quá chặt.

Không chủ động bắt tay người có cương vị cao hơn mình, nhất là đối với khách nữ. Trong trường hợp này, cá nhân cần phải biết ứng xử tinh tế, chỉ nên chào hỏi rõ ràng và hơi cúi đầu thể hiện sự kính cẩn cần thiết. Khi bắt tay, mỗi người cần thể hiện thái độ văn minh, tránh chủ động bắt tay người chưa quen biết, nên chờ người giới thiệu hoặc chủ động giới thiệu để làm quen rồi mới bắt tay. Tay đang ướt, đang bẩn có thể xin lỗi không bắt tay người khác.

Khi có nhiều người cùng giơ tay cho mình bắt, phải bắt tay người có tuổi tác, cương vị cao hơn trong xã hội. Không nên nắm chặt tay phụ nữ nhưng để tỏ rõ sự tôn kính thì nên đưa cả hai tay ra đón lấy tay người hơn mình về cương vị xã hội và tuổi tác. Không nên bắt tay người nọ chéo tay người kia mà phải kiên nhẫn đợi đến lượt mình. Không được dùng đồng thời hai tay phải, trái để bắt tay hai người. Không được vừa bắt tay vừa hút thuốc, hoặc tay kia đút túi quần. Khi bắt tay không ngoảnh mặt sang hướng khác.

Việc lựa chọn trang phục sao cho phù hợp với môi trường công sở cũng thể hiện nét văn hóa ứng xử của mỗi cá nhân.

Ấn tượng ban đầu để đánh giá về mỗi người chính là qua trang phục. Bạn sẽ không thể gây được thiện cảm với sếp, với đồng nghiệp và có thể thành công trong giao tiếp nếu trang phục bạn mặc đến công ty quá đơn điệu, thậm chí có phần “tuềnh toàng” hay lại quá sặc sỡ. Dù là một doanh nhân thành đạt hay đơn giản chỉ là một nhân viên, quần áo, đầu tóc sẽ tạo nên phong cách của bạn. "Quần áo không tạo nên con người mà chỉ nói lên người mặc nó là người thế nào".

Trong điều kiện hiện nay, không phải cơ quan, công sở nào cũng đầu tư, trang bị đồng phục cho nhân viên. Vì vậy, mỗi người cần chú ý một số cách ăn mặc nơi công sở như:

Không mặc áo quần màu sắc quá sặc sỡ, chói mắt, gây khó chịu cho người đối diện và đặc biệt không nên đến công sở với bộ đồ bị nhàu. Không mặc quần áo quá chật, vải quá mỏng, quá ôm sát vào người (nhất là đối với nữ giới)

Trang phục mặc trên người có thể không quá cầu kỳ nhưng phải là những bộ quần áo được là lượt phẳng phiu và hơn hết là thể hiện thái độ nghiêm túc, lối sống văn minh, lịch sự và biết tôn trọng người khác.

Về cách phát ngôn nơi công sở, ngôn ở đây không chỉ hiểu là giọng nói mà còn là cách nói, kiểu nói, cung cách trò chuyện. Đó còn là sự ứng xử tình huống, nghệ thuật giải quyết xung đột. Nói làm sao cho hay, cho đẹp, cho văn minh là cả một quá trình rèn luyện, tu dưỡng của mỗi cá nhân.

Trong môi trường giao tiếp nơi công sở hiện nay, có một bộ phận chưa coi trọng lời ăn tiếng nói của bản thân, còn dễ dãi trong phát ngôn và cung cách ứng xử. Đây là điều cần phải tránh trong bối cảnh đất nước đang phát triển nền kinh tế tri thức và hướng tới xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ.

Tuy cuộc sống hiện đại không đòi hỏi con người ta phải giữ những nghi lễ quá nghiêm ngặt và khắt khe như trước nhưng việc phát ngôn nơi công sở cũng cần phải tuân theo những chuẩn mực và giá trị đạo đức nhất định. Các cá nhân cần phải biết nói cảm ơn, xin lỗi trong những hoàn cảnh cụ thể, cần thiết và phải tuân thủ những quy tắc chào hỏi, biết tôn trọng và giúp đỡ đồng nghiệp.

Thêm nữa, mỗi cá nhân cần đặc biệt lưu ý tránh phát ngôn tùy tiện, thiếu cơ sở về đời tư của người khác ở nơi làm việc, cho dù đó có thể chỉ là những câu chuyện để thư giãn với mục đích đơn thuần là đùa vui.

Một vấn đề nữa được đặt ra trong văn hóa ứng xử nơi công sở là cách mọi người giao tiếp điện thoại.

Khi giao tiếp qua điện thoại, chúng ta nên bắt đầu với câu: "Alô, phòng (tên đơn vị), (hoặc tên người) xin nghe. Xin lỗi, ông (bà) muốn gặp ai ạ?"; khi gọi đi có thể xác nhận là mình gọi đúng đơn vị hoặc người khách mà mình cần giao tiếp không, ví dụ như:”Xin lỗi, có phải (tên dơn vị hoặc người cần gặp) không?”; nếu bị người khác gọi hoặc chúng ta gọi nhầm thì phải xin lỗi, ví dụ: “Xin lỗi tôi bị nhầm, cám ơn….” Hay “Xin lỗi, anh (chị) đã gọi nhầm”.

Khi nói chuyện điện thọai điều chỉnh âm vực giọng nói của mình vừa đủ nghe, tránh nói to ảnh hưởng đến công việc của người xung quanh. Kết thúc buổi nói chuyện nên chào, ví dụ như: "Xin cám ơn. Chúc ông (bà) khỏe. Hẹn gặp lại!" hay “ chào(ông, bà, cô, chú)...” và gác máy nhẹ nhàng (tránh dập máy mạnh làm đối phương hiểu nhầm nhất là khi bên đầu dây là người lớn tuổi hoặc lãnh đạo của mình).

Khi giao tiếp điện thoại cần điều chỉnh cách thức nói chuyện cho phù hợp với từng đối tượng, nói rõ ràng, mạch lạc, không nói quá nhanh hoặc quá chậm và đặc biệt lưu ý đến nội dung muốn nói, hạn chế nói chuyện riêng, chuyện phiếm với người xung quanh khi đang nghe điện thoại, trả lời thẳng vào vấn đề để tiết kiệm thời gian cho đôi bên và đồng thời thể hiện sự chuyên nghiệp. Trong trường hợp chưa có câu trả lời ngay, cá nhân nên lựa chọn cách gọi lại cho đối phương sau khi đã có đáp án chính xác.

Về phong cách làm việc nơi công sở, các cơ quan, đơn vị ngày nay đòi hỏi ở nhân viên một tác phong làm việc chuyên nghiệp, có kỷ luật..

Trước hết, phong cách chuyên nghiệp thể hiện ở việc đúng giờ, muốn thành công, hoặc được lãnh đạo đánh giá tốt, các cá nhân phải có ý thức tự giác trong giờ giấc làm việc, hạn chế tuyệt đối đi muộn, về sớm, tránh sử dụng thời gian ở công sở cho những mục đích cá nhân hay chỉ là đối phó đến đúng giờ để quẹt thẻ, điểm danh sau đó lại ra ngoài làm việc riêng và cần chủ động tuân thủ các quy định của nơi làm việc.

Sự chuyên nghiệp trong cách làm việc còn thể hiện ở việc các cá nhân biết cách tự giới thiệu bản thân một cách ngắn gọn nhưng đầy đủ (về tên, chức danh, nơi làm việc, mục đích trao đổi) khi gặp đối tác. Bên cạnh đó, việc tự tin nói chuyện trước đám đông cũng là cách mỗi người tự thể hiện và chứng tỏ khả năng của mình. Việc trình bày trước đám đông phải có sự chuẩn bị kỹ càng sao cho nội dung ngắn gọn, rành mạch, dễ hiểu nhưng phải đầy đủ và đảm bảo được độ tin cậy.

Phong cách làm việc chuyên nghiệp còn ở việc các cá nhân có sự nhiệt huyết và đam mê, chủ động hoàn thành công việc được giao bằng khả năng của mình sao cho đạt được hiệu quả, tránh tư tưởng làm cho có, làm cho xong hay đùn đẩy công việc cho người khác, gây ảnh hưởng đến chất lượng công việc, bộ mặt của đơn vị và hơn hết làm giảm đi giá trị của mỗi cá nhân.

Có thể nói, trong điều kiện môi trường làm việc hiện đại và ngày một chuyên nghiệp như hiện nay, các cá nhân không chỉ cần nâng cao năng lực chuyên môn nghề nghiệp mà còn cần phải không ngừng rèn luyện, tu dưỡng để tự hình thành cho mình những thói quen, cung cách ứng xử văn minh, lịch sự để từng bước xây dựng giá trị bản thân.

Chính vì lẽ đó, việc thực hiện văn hóa ứng xử nơi công sở trở nên vô cùng cần thiết và có ý nghĩa quan trọng. Việc ứng xử có văn hóa chốn công sở thực tế mang lại rất nhiều lợi ích. Văn hóa ứng xử mà cụ thể hơn là văn hóa ứng xử nơi công sở chính là thước đo sự văn minh của mỗi cán bộ, công nhân viên hay nói cách khác văn hóa ứng xử phản ánh nhận thức cũng như ý thức của mỗi cá nhân trong môi trường làm việc công sở.

Thực hiện văn hóa ứng xử nơi công sở thúc đẩy, tạo dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, thân thiện, tạo bầu không khí làm việc cởi mở, hài hòa, giúp mỗi cá nhân có điều kiện tốt nhất để phát huy năng lực và đạt hiệu quả cao trong công việc. Cán bộ, nhân viên chính là hạt nhân quan trọng của cơ quan, đơn vị. Một khi mỗi cá nhân thực hiện tốt văn hóa ứng xử của mình ở nơi làm việc cũng chính là giúp tăng cường sự đoàn kết nhất trí và sự thấu hiểu giữa các thành viên trong một tập thể. Nhờ vậy, chất lượng hoạt động của cơ quan, đơn vị được cải thiện và không ngừng phát triển và Xây dựng văn hóa ứng xử nơi công sở phù hợp, tiến bộ là cách thức đúng đắn để hướng tới một môi trường làm việc thực sự văn minh, lịch sự và hài hòa.

 

 

 

Chuyên mục tin: