Văn hóa ứng xử trong gia đình truyền thống và hiện đại

Văn hóa ứng xử trong gia đình truyền thống và hiện đại

 

TS. Lê Thị Bích Hồng

Nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Văn hóa – Văn nghệ

Ban Tuyên giáo Trung ương,

Giảng viên Cao cấp Trường ĐH Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội

 

I. KHÁI NIỆM VĂN HÓA, GIA ĐÌNH VÀ VĂN HÓA ỨNG XỬ

1. Khái niệm văn hóa

- Có nhiều định nghĩa về văn hóa. Văn hoá là toàn bộ những hoat động sáng tạo và giá trị của con người của một quốc gia, một dân tộc về sản xuất vật chất và tinh thần trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Văn hoá là tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động… Văn hoá là chất lượng cuộc sống.

Triết gia Lưu Hướng thời Tây Hán cho rằng văn hóa là lấy cái đẹp để giáo hoá (văn là đẹp, hoá là giáo hoá). Đến thời hiện đại, nhà văn hoá học Taylor (người Anh) định nghĩa: “văn hoá là một tổng thể phức tạp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và cả những năng lực, thói quen mà con người đạt được trong xã hội”. “Văn hoá là cái gì còn lại sau khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả” (E.Henriotte).

Tại Hội nghị của UNESCO tại Mêhicô từ 26/7 đến ngày 06/8/1982 với sự tham gia của gần 500 nhà nghiên cứu, văn hoá đã được định nghĩa: “Văn hoá là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc hoạ nên bản sắc của một gia đình, cộng đồng, làng xóm, vùng miền, quốc gia, dân tộc….Văn hoá không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả những lối sống những quyền cơ bản của con người, những hệ giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng, những di sản văn hoá hữu thể và những di sản văn hoá vô hình”. Từ điển tiếng Việt viết: “văn hoá là tổng thể nói chung tất cả những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”.

Có cách tiếp cận văn hóa: văn hóa là phi tự nhiên, là đặc trưng người, là nhân hoá, văn hoá là trình độ người (UNESCO).

Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”.

Văn hóa là một trường nghĩa rộng bao hàm nhiều nét văn hóa đặc trưng cho từng khía cạnh khác nhau mang tính khác biệt rõ rệt: văn hóa xã hội, văn hóa gia đình, văn hoá ăn, văn hoá mặc, văn hóa sống, văn hóa giao tiếp,… Mỗi nét văn hóa có vị trí và đặc điểm riêng. Văn hóa bao giờ cũng gắn liền với sự phát triển, là chìa khóa của sự phát triển và tiến bộ xã hội.

2. Khái niệm văn hóa ứng xử

- Khái niệm “văn hóa ứng xử”: Văn hóa là cơ sở hình thành cách thức giao tiếp, hành vi hay đúng hơn là văn hóa ứng xử của mỗi cá nhân trong cuộc sống.

Từ “văn” có nghĩa là nét đẹp. Từ “hóa” là chuyển từ một trạng thái này sang trạng thái khác. 

Từ “văn hóa” ở dạng động từ là làm cho trở nên đẹp. Từ “văn hóa” ở dạng danh từ là tập hợp những nét đẹp do rèn luyện mà có của một con người, một tập thể, một cộng đồng.

Từ “Ứng” là đáp lại một tác động.  Từ “xử” là dùng thái độ, hành động để làm hiện lên kết quả của một thái độ, hành vi khác, dựa trên sự phân định rõ mức độ đúng sai của thái độ, hành vi đó. 

- Văn hóa ứng xử là tập hợp những nét đẹp thể hiện qua các thái độ, hành động phân xử, thế ứng xử, đối ứng với một thái độ, hành vi khác thể hiện triết lý sống, các lối sống, lối suy nghĩ, lối hành động của một cá nhân, một cộng đồng người trong việc trong việc ứng xử và giải quyết những mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội từ nhỏ đến lớn.

- Văn hoá ứng xử có vai trò rất quan trọng trong đòi sống thường nhật và đời sống tâm linh của dân tộc Việt Nam nói riêng và của nhân loại nói chung.

Nét đặc trưng nổi bật nhất của văn hoá ứng xử là hành vi ứng xử của con người với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội (con người cá nhân với cá nhân, với cộng đồng xã hội và với chính bản thân mình). Hay nói cách khác, văn hoá ứng xử chính là nét đặc trưng mang bản sắc văn hóa dân tộc.

3. Khái niệm gia đình và văn hóa gia đình

Khái niệm gia đình: Gia đình là một nhóm người, có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nghĩa dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống, có ngân sách chung. Tuy nhiên, khái niệm gia đình mở rộng với trường hợp không cùng huyết thống (con nuôi).

Cấu trúc gia đình được xác định chính là những thành tố tạo nên gia đình và quan hệ qua lại giữa các thành tố đó. Nói một cách khác, cấu trúc gia đình là số lượng, thành phần và mối quan hệ giữa các thành viên và các thế hệ trong gia đình. Từ đây, ta có thể thấy gia đình được cấu trúc theo chiều dọc và chiều ngang: Chiều ngang là quan hệ hôn nhân và chiều dọc là quan hệ huyết thống.

Gia đình Việt Nam truyền thống: Gia đình Việt Nam truyền thống được sử dụng tuân theo một ước lệ về mặt thời gian. Thực tế những đặc trưng của gia đình Việt Nam truyền thống vẫn được lưu giữ trong nhiều gia đình hiện đại thông qua các giá trị như truyền thống yêu nước, cần cù lao động, hiếu học, tôn trọng tình cảm, sống tình nghĩa, thủy chung…

Văn hóa gia đình: Văn hoá trong gia đình Việt Nam truyền thống được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa nền văn hoá bản địa nảy sinh từ xã hội dựa trên nền tảng của nền sản xuất nông nghiệp lúa nước với hệ thống tư tưởng Nho giáo và triết lý đạo Phật về gia đình. Khái niệm văn hoá gia đình có thể được hiểu là hệ thống những giá trị, chuẩn mực đặc thù điều tiết mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và giữa gia đình với xã hội, phản ánh bản chất của các hình thái gia đình đặc trưng cho các cộng đồng, các tộc người được hình thành và phát triển qua lịch sử lâu dài của đời sống gia đình, gắn liền với những điều kiện phát triển kinh tế, môi trường tự nhiên và xã hội.

II. VĂN HOÁ ỨNG XỬ TRONG GIA ĐÌNH

Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ở thời đại nào văn hoá gia đình cũng là nền tảng cho văn hoá xã hội. Văn hoá gia đình giàu tính nhân văn, nhân bản, đề cao giá trị đạo đức, xây dựng nếp sống văn hoá trật tự, kỷ cương, hun đúc tâm hồn, bản lĩnh con người. Bởi vậy, gia đình tốt là bảo đảm cho dân giàu, xã hội dân chủ, văn minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình[1].

1. Văn hóa ứng xử trong gia đình truyền thống

1.1. Tính đặc thù của gia đình Việt Nam truyền thống

Tính đặc thù của gia đình là những đặc trưng bản chất của một loại hình gia đình, tạo nên sự khác biệt cơ bản giữa loại hình gia đình này với loại hình gia đình khác, được quy định bởi những điều kiện phát triển kinh tế xã hội trong một quá trình lịch sử lâu dài.

1.2. Cơ sở hình thành tính đặc thù của gia đình Việt Nam truyền thống

- Về nền văn minh lúa nước: Việt Nam được nhìn nhận như một trong những cái nôi đầu tiên của lịch sử văn minh loài người. Nền văn minh sông Hồng lấy nông nghiệp trồng lúa nước - phương thức sản xuất Châu Á và tổ chức xóm làng làm cơ sở.

Gia đình gắn bó chặt chẽ với làng nước trong tư duy và trong hành động của người Việt cổ. Chế độ sở hữu ruộng đất và phân phối sản phẩm. Người Việt luôn có ý thức quý trọng ruộng đất, bảo vệ ruộng đất và các gia đình thường nhắc nhở nhau là "tấc đất, tấc vàng". Ý thức về ruộng đất cũng là cơ sở tạo ra các giá trị tôn trọng của công, tôn trọng các thành quả lao động, quá trình sản xuất nông nghiệp. Nó cũng là tiền đề của lòng yêu làng xóm, quê hương và cao hơn là tình yêu đất nước.

- Về tổ chức xã hội theo làng- xã: Trước khi có nhà nước, làng là đơn vị tự trị hoàn toàn. Nét đặc trưng chủ yếu của giai đoạn sau khi có nhà nước với phương thức sản xuất châu Á là sự thống nhất của các làng. Việc tổ chức xã hội của người Việt đã hình thành nên làng xã với hai đặc tính nổi trội đó là tính cộng đồng và tính tự trị.

Tổ chức quốc gia của người Việt: Tổ chức quốc gia ngay trong thời kỳ đầu của nhà nước phong kiến luôn bị sự chi phối của phương thức sản xuất nông nghiệp lúa nước. Ở Việt Nam "nước" là sự mở rộng của "làng".

Trong cách xử lý các vấn đề của đất nước, lý lẽ và tình cảm luôn là sự đan xen, chi phối lẫn nhau và bao giờ cũng dựa trên nguyên tắc "trong lý có tình".

Ảnh hưởng của Nho giáo trong xã hội truyền thống: Nho giáo ở Việt Nam không theo khuynh hướng "bình thiên hạ", mà mỗi nhà Nho đều theo ý thức về con đường của mình là học hành, thi cử, đỗ đạt, làm quan, giúp dân, giúp nước và cải tạo xã hội. Người Việt khi tiếp nhận Nho giáo tâm đắc với chữ Nhân. Trong gia đình, nếu Nho giáo đề cao chế độ phụ quyền khinh miệt phụ nữ, thì đối với người Việt, hình ảnh người mẹ, người vợ luôn có chỗ đứng trong suy nghĩ và đời sống tình cảm.

- Một số tư tưởng khác

Phật giáo: sự du nhập và ảnh hưởng của Phật giáo góp phần hạn chế bớt sự cứng nhắc của tư tưởng Nho giáo đối với các mối quan hệ gia đình.

Đạo giáo góp phần tạo nên sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình và sự gắn bó giữa gia đình với cộng đồng làng xóm của mình.

1.3. Những đặc điểm của gia đình Việt Nam truyền thống

1.3.1. Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình

 Quan hệ hôn nhân

Quan hệ hôn nhân trong xã hội truyền thống thường được xây dựng trên cơ sở "Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống", “môn đăng hộ đối” có đẳng cấp gần nhau, thậm chí vị trí trong dòng họ cũng phải tương xứng.

Câu ca “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” đã trở thành phép ứng xử trong hôn nhân. Cha mẹ quyết định, con cái nghe theo. Quyền định đoạt hôn nhân là của người lớn “Đôi ta làm bạn thong dong-Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng-Bởi chưng bác mẹ nói ngang-cho nên đũa ngọc mâm vàng xa nhau”. Nếu có phản kháng việc định đoạt hôn nhân của cha mẹ thường chỉ có ở nam giới, còn phụ nữ đương nhiên phải chấp nhận (rất hiếm trường hợp đủ can đảm để chống lại việc đó). Con trai sống độc thân bị coi là một hành động bất hiếu, con gái sống độc thân lại rất được coi trọng.

Tình trạng tảo hôn trước đây ở nước ta diễn ra khá phổ biến. Hầu hết phụ nữ đều được gả sớm, thậm chí có sự chênh lệch khá rõ về tuổi tác so với người chồng “Bồng bồng cõng chồng đi chơi…”, “Trời mưa nước chảy qua sân-Em lấy ông lão qua lần thì thôi”... Hôn nhân khắt khe với phụ nữ đã có chồng “Trai tơ lấy phải nạ dòng, như nước mắm thối chấm lòng lợn thiu”. Đó là lý do sau này phụ nữ “nạ dòng” gặp rất nhiều khó khăn khi tái hôn với “trai tân”.

Gia đình là một thiết chế gia trưởng. Trong một gia đình các mối quan hệ trên dưới rõ ràng: cha ra cha, con ra con; anh ra anh, em ra em; chồng ra chồng và vợ ra vợ. Các mối quan hệ này được điều chỉnh bằng luân lý tam cương, ngũ thường và được cụ thể hoá thành gia quy. Người chồng phải giữ nghĩa với vợ, người vợ phải giữ tiết với chồng, thực hiện nghiêm “tam tòng tứ đức”.

Văn hóa gia đình của người Việt truyền thống cơ bản vẫn là văn hóa gia đình tiểu nông, sản xuất nhỏ, mang tính chất nông nghiệp. Đặc điểm này thể hiện trong cơ cấu, loại hình và toàn bộ hoạt động của đời sống của văn hóa gia đình Việt Nam.

Vấn đề hôn nhân trong gia đình Việt Nam truyền thống: Gia đình là đơn vị duy nhất được xã hội thừa nhận và cho phép tạo ra những công dân mới cho xã hội. Những qui định đối với hôn nhân trong xã hội cũ là rất ngặt nghèo, hiếm khi dựa trên cơ sở tình yêu mà mục đích chủ yếu là duy trì nòi giống và phát triển kinh tế. Câu ca "Có con mà gả chồng gần, có bát canh cần nó cũng mang cho" đã phản ánh tinh thần tự trị làng xã khá đậm nét trong truyền thống và nếp nghĩ của người Việt trước đây “Trâu ta ăn cỏ đồng ta”. Nguyên nhân là bởi "ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn", "nam nữ thụ thụ bất thân"…

Về loại hình: Căn cứ vào quy mô và cơ cấu, gia đình có 3 loại: Gia đình hạt nhân, gia đình nhỏ và gia đình lớn. Cái khác nhau của mỗi nền văn hóa chính là sự tồn tại loại gia đình nào chiếm ưu thế. Quy mô gia đình 2 thế hệ chiếm tỷ lệ lớn.  Hình thức gia đình đông con và nhiều thế hệ cùng chung sống trên một mảnh đất của tổ tiên là hình thức gia đình hạt nhân mở. Thời gian đầu, gia đình trẻ thường ở chung cùng cha mẹ và chịu sự chi phối đó. Nếu có ở riêng thì thực chất vẫn ở trên cùng đất đai tổ tiên, có khi chỉ cách nhau bức vách. Trong hoàn cảnh này, quan hệ mẹ chồng nàng dâu thường nảy sinh mâu thuẫn. Nhưng sự xung đột vợ chồng không bắt nguồn từ nguyên nhân kinh tế như xã hội hiện đại, mà chủ yếu nằm trong hành vi và cách ứng xử của người phụ nữ với gia đình chồng.

Gia đình Việt Nam truyền thống được gắn kết một cách bền chặt là do tình nghĩa và trách nhiệm giữa các thành viên. Trong mô hình gia đình truyền thống, mọi thành viên trong gia đình đều đón nhận và thụ hưởng sự hy sinh của phụ nữ... Ngay cả vấn đề quan hệ tình dục, người vợ cũng luôn phải chịu sự bất công, luôn ở trạng thái bị động và cam chịu. Tính ưu việt của gia đình truyền thống đặc biệt trong mối quan hệ vợ chồng chính là sự chung thuỷ, sự hoà thuận gia đình.

 Quan hệ cha mẹ - con cái

Tư tưởng “nam tôn, nữ ti” ăn sâu tới mức, gia đình chỉ trông mong vào con trai, nhất là con trưởng để giữ gìn cơ nghiệp và duy trì gia thống. Sự giáo dục cho con gái trong gia đình thường mang tính hướng nội. Hiếu thảo là một đạo lý sâu xa trong mô hình gia đình truyền thống thể hiện mối quan hệ chiều dọc giữa cha mẹ và con cái.

Trong gia đình giáo dục sự tôn nghiêm, quy tắc của lễ giáo. Tình cảm và sự yêu thương của người mẹ, sự nghiêm khắc và răn đe của người cha. Người Việt có tín ngưỡng trọng Mẫu, tôn trọng phụ nữ.

Các mối quan hệ khác trong gia đình

Quan hệ giữa ông bà - con cháu: Theo lễ giáo phong kiến thì người cao tuổi nhất (đàn ông) bao giờ cũng được tôn vinh. Thông thường người đàn ông cao tuổi nhất trong gia đình có tiếng nói quan trọng chỉ đạo gia đình, phát triển kinh tế và nuôi dạy con cháu.

Quan hệ giữa anh chị em: "Anh em như thể tay chân- Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần","quyền huynh thế phụ", “Chị ngã em nâng”...

Người Việt coi trọng mối quan hệ giữa gia đình và dòng họ. Họ ý thức gia đình mạnh thì dòng họ mới mạnh; ý thức liên minh gia đình và dòng họ đã bộc lộ cả mặt tích cực và tiêu cực...

Ngoài quan hệ gia đình, người Việt coi trọng nguyên tắc sống tình nghĩa, quan tâm tình làng nghĩa xóm “bán anh em xa, mua láng giềng gần”, “Tối lửa tắt đèn có nhau”... Không chỉ gần nhau về không gian sinh hoạt mà còn do đặc điểm sản xuất lúa nước, nên các gia đình đã tự nhiên xích lại gần nhau. Làng từ đó mà hình thành rồi sau này, làng trở thành các đơn vị hành chính.

1.3.2. Chức năng của gia đình Việt Nam truyền thống

Chức năng kinh tế của gia đình Việt Nam truyền thống

Gia đình Việt Nam truyền thống là một đơn vị kinh tế độc lập, tự sản tự tiêu. Người chồng, người cha trong gia đình đóng vai trò là trụ cột kinh tế, họ đồng thời nắm toàn bộ quyền kiểm soát về kinh tế gia đình. Sự trì trệ, máy móc và bảo thủ trong hoạt động kinh tế gia đình luôn biểu hiện cùng cơ chế tổ chức và quản lý mang tính gia trưởng.

Đặc điểm chức năng tái sản xuất xã hội của gia đình Việt Nam truyền thống: Đông con là một giá trị cơ bản của gia đình và xã hội truyền thống: "nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô", "con gái là con người ta"...

Đặc điểm chức năng xã hội hoá - giáo dục của gia đình Việt Nam truyền thống: Nhắc đến nhiều nhất trong nội dung giáo dục của gia đình là đạo đức và cách sống làm người. Sự đánh giá của xã hội với gia đình luôn lấy tiêu chí nhìn vào con cái. Mục đích giáo dục trong gia đình truyền thống khác nhau theo loại hình gia đình, những nhà nghèo khó vẫn cố gắng cho con học đến nơi đến chốn. Người cha thường giáo dục bằng sự nghiêm khắc, người mẹ thường giáo dục bằng sự nhân từ, "thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi", "con hư tại mẹ, cháu hư tại bà"...

Đặc điểm chức năng tình cảm, tâm lí của gia đình Việt Nam truyền thống đề cao vai trò của các giá trị đạo đức và các giá trị đó chi phối hầu hết các mối quan hệ của gia đình. Đó là sự thương yêu, chăm sóc con cái hết lòng của cha mẹ đối với con cái, sự hiếu thảo của con cái với cha mẹ; sự gắn bó và yêu thương nhau giữa anh chị em, sự thuỷ chung, hoà thuận trong tình nghĩa vợ chồng... Những tình cảm đối với gia đình cũng là cội nguồn của tình làng xóm quê hương và xa hơn là tình yêu đất nước. Cho nên mới có câu "cáo chết ba năm quay đầu về núi"...

1.3.3. Đặc điểm về thiết chế gia đình Việt Nam truyền thống

 Gia đình là một thiết chế trung tâm của xã hội: "Gia đình là một thiết chế xã hội mang màu sắc dân tộc và đánh dấu tiến trình phát triển về văn hóa... Gia đình điều chỉnh chức năng của các cộng đồng ấy" (cố Giáo sư Trần Đình Hượu). Gia đình không chỉ là đơn vị cuối cùng của xã hội mà còn là mẫu hình để tổ chức xã hội và nhà nước. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của dân tộc ta được nâng lên thành đạo hiếu - đạo tổ tiên.

Người gia trưởng là người đứng đầu gia đình chịu trách nhiệm trước pháp luật về hết thảy mọi hành vi của những người trong nhà. Pháp luật phạt nhẹ lỗi của người bố mà trừng trị nghiêm khắc lỗi của con trai. Gia đình cũng là nơi quan trọng nhất để duy trì đạo đức trung hiếu, được coi là giá trị nền tảng của xã hội truyền thống; là đơn vị kiểm soát cá nhân. Từng cá nhân trong một gia đình bị ràng buộc và kiểm soát bằng luân lý, phong tục, lễ nghi và pháp luật.

1.3.4. Ứng xử của gia đình người Việt truyền thống

Những nét đẹp ứng xử trong gia đình đã hình thành nên nhiều giá trị văn hoá mang tính truyền thống của người Việt như: Sự hoà thuận, chung thuỷ, tình nghĩa, lòng yêu thương, hy sinh cho con cái, tôn trọng, hiếu đễ với cha mẹ, anh em…

Gia đình truyền thống Việt Nam được xây dựng trên nền tảng của “gia đạo”, “gia phong” và “gia lễ”.

Gia đạo” là đạo đức của gia đình như đạo hiếu, đạo ông bà, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em.

“Gia lễ”là những nghi lễ, tập tục, cung cách ăn nói, đi đứng, ứng xử đó trở thành truyền thống, được cha ông chọn lựa qua nhiều thế hệ, nay con cháu cần noi theo một nguyên tắc có tôn ti trật tự theo lễ tiết. 

“Gia phong”được hiểu là thói nhà, tập quán và giáo dục trong gia tộc, nền nếp riêng của một gia đình. Cốt lõi của gia phong luôn hướng tới tinh thần chuộng gốc nguồn, khuyến khích lòng hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, thờ kính tổ tiên, coi trọng gia đình, thủy chung tình nghĩa, anh em hiếu thuận trong ứng xử, việc học tập lấy tâm, tri, năng làm gốc…

Nhiều gia đình Việt Nam xưa nhờ biết duy trì lối ứng xử có văn hoá đã tạo ra nền nếp, kỷ cương để mọi người cùng noi theo. Chính gia lễ, gia phong ấy là cái gốc của gia đình, giữ cho con người Việt Nam, gia đình và xã hội Việt Nam một sức sống mãnh liệt và sự trong sáng với cội nguồn.

Văn hóa ứng xử trong gia đình Việt Nam luôn là một đề tài được quan tâm và coi trọng. Cha ông ta luôn dăn dạy các thế hệ tiếp nối cách giao tiếp ứng xử nhân văn từ trong truyền thống gia đình người Việt. Vì thế, những câu ca dao, tục ngữ đã đúc rút những kinh nghiệm, cách ứng xử quý báu trong quan hệ gia đình.

Từ khi sinh ra, con người luôn gắn bó, biết ơn đấng sinh thành nuôi dưỡng với tình cảm quý trọng: “Phụ tử tình thâm” “Xương cha, da mẹ” “Cá chuối đắm đuối vì con”…

Câu ca dao sau thể hiện sâu sắc lòng tri ân:

 “Công cha như núi Thái Sơn

 Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

 Một lòng thờ mẹ, kính cha

 Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

Là con phải báo hiếu với cha mẹ, là niềm tự hào của cha mẹ. Từ chữ hiếu đã nâng lên thành đạo làm con. Đạo làm con luôn ơn sinh thành, tiếp nhận giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội để trở thành người có tài, có đức; là công dân tốt biết cống hiến sức lực, trí tuệ cho đất nước, xã hội; biết làm việc nhân, điều thiện, tích đức tâm; phụng dưỡng cha mẹ khi về già, thờ cúng cha mẹ đã khuất… Đó cũng là xuất phát của việc thờ cúng tổ tiên bày tỏ tấm lòng ghi ơn “Uống nước nhớ nguồn”.

Bên cạnh đó, mối quan hệ ứng xử giữa anh chị em trong nhà cũng luôn được đề cao:

  • Anh em như chân, như tay

Như chim liền cánh, như cây liền cành”

  • “Em thuận, anh hòa là nhà có phúc”...

Mối quan hệ máu mủ ấy không gì có thể sánh bằng, không gì có thể chia cắt: “Cắt dây bầu dây bí-Chẳng ai cắt dây chị dây em”. Cách xử thế bao đời vẫn là: “Chị ngã, em nâng”... Cũng vì lẽ đó, cha ông ta luôn lên án những người không giữ được tình cảm anh chị em hòa thuận trong gia đình.

Quan niệm quan hệ vợ chồng là do “ông tơ bà nguyệt” se duyên. Nhưng khi hai người đã về ở một nhà thì ngoài tình vợ chồng, “nghĩa tào khang” là trách nhiệm chung xây dựng gia đình, duy trì giống nòi, nuôi dạy con cái, tôn tình nghĩa vợ chồng thành đạo vợ chồng:

Đốn cây ai nỡ dứt chồi

 Đạo chồng nghĩa vợ giận rồi lại thương

Ca dao đề cao sức mạnh hòa thuận, đoàn kết:

 “Thuận vợ, thuận chồng tát bể Đông cũng cạn”…

Những nét đẹp ứng xử trong gia đình đã hình thành nên nhiều giá trị văn hoá mang tính truyền thống của người Việt như: Sự hoà thuận, chung thuỷ, tình nghĩa, lòng yêu thương, hy sinh cho con cái, tôn trọng, hiếu đễ với cha mẹ, anh em…

Nhiều gia đình Việt Nam xưa nhờ biết duy trì lối ứng xử có văn hoá đã tạo ra nền nếp, kỷ cương để mọi người cùng noi theo. Chính gia lễ, gia phong ấy là cái gốc của gia đình, giữ cho con người Việt Nam, gia đình và xã hội Việt Nam một sức sống mãnh liệt và sự trong sáng với cội nguồn.

2. Văn hoá ứng xử trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

Nước ta đang thực hiện tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế trong xu hướng toàn cầu hóa. Sự giao lưu mở cửa hội nhập đã đem đến cho gia đình Việt Nam nhiều cơ hội. Gia đình Việt Nam có điều kiện phát triển kinh tế, giao lưu hội nhập với các nền văn hóa tiên tiến, văn minh của các nước.

Mục tiêu chủ yếu của công tác gia đình trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá là ổn định, củng cố và xây dựng gia đình theo tiêu chí ít con (mỗi cặp vợ chồng chỉ một hoặc hai con), no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, để mỗi gia đình Việt Nam thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội. Chuẩn mực của gia đình Việt Nam hiện nay gồm 4 yếu tố: 

No ấm: Biểu hiện sự phát triển kinh tế của gia đình nhằm đáp ứng các nhu cầu về vật chất và tinh thần của các thành viên. 

Bình đẳng: Biểu hiện các thành viên trong gia đình tôn trọng lẫn nhau và được hưởng mọi quyền lợi về học tập, lao động, nghỉ ngơi, giải trí, chăm sóc sức khoẻ. Đặc biệt quan tâm đến phụ nữ, trẻ em gái, người cao tuổi.

Tiến bộ: Biểu hiện các thành viên trong gia đình luôn có ý thức rèn luyện, phấn đấu vươn lên về mọi mặt để có kiến thức, trình độ, năng lực; có đạo đức, lối sống lành mạnh phù hợp với truyền thống văn hoá dân tộc và xu thế phát triển của thời đại. 

Hạnh phúc: Biểu hiện các thành viên trong gia đình gắn bó, thương yêu, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ, tạo ra môi trường trong sạch, ngăn chặn tệ nạn xã hội.

Thời kỳ này, dù văn hóa ứng xử đã có nhiều thay đổi rất so với ngày xưa, nhưng những khuôn phép của mỗi gia đình vẫn là sự duy trì giá trị ứng xử gia đình truyền thống và áp dụng linh hoạt cái mới trong thời kỳ mới. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định sự tôn trọng giá trị ứng xử từ gia đình truyền thống: “Ba trụ cột của ý thức cộng đồng người Việt, đó là gia đình (nhà), làng và nước. Ngày nay, xây dựng một xã hội công bằng, văn minh đòi hỏi chúng ta phải trở lại với những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp từ gia đình”.

Gia đình Việt Nam trong thời kỳ đổi mới là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển đất nước. Do đó vai trò của văn hoá gia đình trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế là rất quan trọng và cần thiết. Quan tâm đến 3 mối ứng xử quan trọng:

Thứ nhất: Quan hệ giữa vợ- chồng: Trong gia đình hiện đại, quan hệ vợ chồng được xây dựng trên cơ sở tình yêu chân chính, sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Những giá trị đó được biểu hiện trong việc lựa chọn vợ (hoặc chồng) một cách tự do của người trong độ tuổi thành hôn, trong việc tham gia lao động, công việc xã hội, trong việc đóng góp và hưởng thụ tài sản gia đình, trong việc quyết định những vấn đề chung của gia đình (sinh đẻ có kế hoạch, ly hôn,...) giữa vợ và chồng. Mối quan hệ vợ chồng mang sắc thái tốt đẹp: coi trọng giá trị lòng trung thuỷ, tình nghĩa vợ chồng, sự hoà thuận, hơn nữa là sự bình đẳng, quyền tự do dân chủ của mỗi người, cùng quan tâm đến lợi ích riêng cũng như lợi ích của cả gia đình... Nền tảng của một gia đình hạnh phúc phải là mối quan hệ tốt đẹp, hiểu biết, thông cảm và thương yêu nhau giữa vợ và chồng, là cơ sở ngăn chặn bạo lực giữa vợ và chồng trong gia đình, là một mục tiêu nhằm hướng tới xây dựng gia đình đạt chuẩn gia đình văn hoá.

Thứ hai: Quan hệ giữa cha mẹ- con cái: Là quan hệ tình cảm, bao gồm sự ứng xử của cha mẹ với con cái và sự ứng xử của con cái đối với cha mẹ. Mối quan hệ này được biểu hiện trong các hình thái gia đình cũng khác nhau. ở gia đình hiện đại, nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp đó được giữ gìn và phát triển, tinh thần thương yêu, sự hi sinh của cha mẹ vì con cái và sự kính trọng, biết ơn và hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ.Mối quan hệ này là khuôn khổ cần thiết cho sự phát triển của trẻ. Thông qua các cách truyền đạt bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, cha mẹ đã truyền lại cho con cái những giá trị, niềm tin, thái độ và cả những tri thức về thế giới xung quanh. Có thể nói những giá trị mà cá nhân thu được từ gia đình là rất đáng kể, một trong những khía cạnh thể hiện bản chất của mối quan hệ này là chức năng xã hội hóa của bố mẹ đối với con cái. bằng mối quan hệ, tình cảm ruột thịt, máu mủ giữa cha mẹ và con cái góp phần hạn chế đi những mâu thuẫn hằng ngày, phòng chống bạo lực gia đình đối với trẻ em.

Thứ ba: Quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu: Ở Việt Nam truyền thống về trợ giúp và chăm sóc người cao tuổi đã tồn tại trong các gia đình, đặc biệt là đối với người con đã trưởng thành. Chính những quan niệm truyền thống, phong tục văn hóa gia đình người Việt đã làm cho mối quan hệ giữa người cao tuổi và các thành viên trong gia đình ngày càng mật thiết hơn, gắn bó với nhau gần gũi hơn, người trẻ kính trọng người già.

Ứng xử trong gia đình hôm nay cần quan tâm đến những tác động trực tiếp đến gia đình Việt Nam.

Cơ chế thị trường và quá trình công nghiệp hóa một mặt có tác động tích cực, nhưng mặt trái của cơ chế thị trường và lối sống thực dụng tác động mạnh tới các giá trị đạo đức truyền thống và lối sống lành mạnh, đã và đang làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội liên quan trực tiếp tới phụ nữ, tác động đến đời sống gia đình Việt Nam, làm cho gia đình Việt Nam đang đứng trước những thử thách, sóng gió. Phụ nữ gặp nhiều khó khăn, thách thức khi thực hiện vai trò người mẹ, người thầy đầu tiên của con người trong điều kiện xã hội và gia đình Việt Nam có nhiều thay đổi.

Có thể thấy rõ nhất là cuộc sống của xã hội hiện đại với sự phát triển mạnh mẽ của các thành phần kinh tế đã tác động đến đời sống gia đình, ở một góc độ nào đó đã phá vỡ nền nếp gia phong đạo đức của gia đình truyền thống Việt Nam. Tình trạng ly hôn, ly thân, sống chung như vợ chồng không đăng ký kết hôn, quan hệ tình dục trước hôn nhân và việc nạo phá thai trong giới trẻ gia tăng, để lại những hậu quả nặng nề về nhiều mặt đối với gia đình và xã hội. Xu hướng hôn nhân với người nước ngoài ngày càng nhiều và sau hôn nhân nhiều phụ nữ di cư theo chồng sinh sống ở nước ngoài cũng đặt ra mối quan tâm lo lắng của toàn xã hội. Mâu thuẫn xung đột giữa các thế hệ về phép ứng xử, lối sống và vấn đề chăm sóc người cao tuổi đang đặt ra những thách thức mới. Tình trạng bạo lực trong gia đình có chiều hướng ngày càng gia tăng mạnh mẽ đến mức báo động. Các giá trị văn hóa gia đình truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam đang có biểu hiện xuống cấp, mai một. Nhiều tệ nạn xã hội như ma túy, cờ bạc, rượu chè, mại dâm… đã và đang xâm nhập vào các gia đình.

Sự phân hoá giàu nghèo sẽ tiếp tục tác động vào số đông các gia đình. Nhiều gia đình nếu không được hỗ trợ, không được chuẩn bị đầy đủ sẽ không đủ năng lực đối phó với những thay đổi nhanh chóng về kinh tế - xã hội và không làm tròn các chức năng vốn có của mình. Xu thế thu nhỏ gia đình trong xã hộicông nghiệp nếu không được định hướng sẽ tiếp tục gây sức ép về nhà ở cũng như đặt việc chăm sóc trẻ em và người cao tuổi vào một thách thức mới[2].

Hiện tượng tảo hôn vẫn còn tồn tại. Tình trạng ly hôn, ly thân, chung sống không kết hôn, quan hệ tình dục và nạo phá thai trước hôn nhân gia tăng đã để lại những hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt đối với gia đình và xã hội. Những biểu hiện tiêu cực trong hôn nhân với người nước ngoài đang làm cho xã hội lo lắng. Nhiều giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của gia đình như hiếu nghĩa, thuỷ chung, kính trên nhường dưới đang có biểu hiện xuống cấp. Sự xung đột giữa các thế hệ về lối sống và việc chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi đang đặt ra những thách thức mới. Bạo hành trong gia đình, tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em, trẻ em bị xâm hại, trẻ em phải lang thang kiếm sống, trẻ em vi phạm pháp luật có chiều hướng phát triển[3].

Phẩm chất đạo đức và một số giá trị truyền thống tốt đẹp có phần bị mai một, lối sống thực dụng có xu hướng phát triển trong một bộ phận phụ nữ. Tình trạng nạo, phá thai trong nữ thành niên, vị thành niên và lây nhiễm HIV/AIDS trong phụ nữ, trẻ em ngày càng tăng. Bạo lực gia đình, tệ nạn mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em, lấy chồng nước ngoài vì mục đích vụ lợi diễn biến phức tạp. Phân biệt đối xử với phụ nữ, trẻ em gái vẫn còn dưới nhiều hình thức[4].

Chính guồng quay của xã hội hiện đại đã làm ảnh hưởng phần nào các giá trị tốt đẹp trong văn hóa ứng xử gia đình. Không ít người làm cha làm mẹ không làm tròn bổn phận, trách nhiệm. Không chăm lo cho thế hệ tương lai, mải kiếm tiền và vun vén cho hạnh phúc ích kỷ của bản thân. Do thiếu giáo dục nền tảng đạo đức, thiếu tính làm gương của cha mẹ, không ít con cái trong gia đình không nghĩ đến tình phụ mẫu mà bất chấp làm mọi việc trái với luân thường đạo lý. Một thực tế đáng buồn là sự xuống cấp của những nguyên tắc, chuẩn mực trong gia đình, sự vi phạm cũng như việc chấp nhận những sai lệch chuẩn mực xã hội trong gia đình đã diễn ra một cách dễ dàng và khá phổ biến. Những giá trị đạo đức truyền thống đang bị xói mòn mạnh mẽ. Các nghiên cứu về gia đình đã chỉ ra được những thay đổi các giá trị đạo đức truyền thống, những giá trị vốn được xem là chuẩn mực đạo đức từ trước đến nay.

Nguyên nhân

Do xu thế phát triển của xã hội, sự giao thoa của các nền văn hóa, và đất nước tiến hành CNH, HĐH, hội nhập quốc tế, nền văn hóa Việt Nam có sự thay đổi và hòa nhập hơn và cũng có nhiều hệ lụy. Văn hóa các nước được truyền tải, du nhập vào Việt Nam một cách ồ ạt đã làm ảnh hưởng đến giá trị văn hóa gia đình. Đó là nguyên nhân dẫn tới các hệ quả, quy mô gia đình ngày càng nhỏ, sự tách biệt nơi cư trú của con cái sau khi xây dựng gia đình và sự xuất hiện của các kênh giao tiếp gián tiếp với sự trợ giúp của các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại làm sự liên hệ, thông cảm giữa các thế hệ càng ít đi. Người già trở nên cô lẻ, có sự chia ly ông bà ở với con cháu khác nhau. Trong quan hệ giữa ông bà - con cháu cũng xuất hiện những xung đột và xích mích xung đột thế hệ. Sự khác biệt về kinh nghiệm, nhu cầu và sở thích trong cuộc sống dẫn đến sự không bằng lòng giữa các thế hệ, dẫn đến các hiện tượng như: con cháu không tôn trọng sự khuyên bảo, cư xử không đúng gây xúc phạm tình cảm, không quan tâm chăm sóc, thiếu tâm tình cởi mở, thậm chí có hiện tượng bạc đãi người cao tuổi… Những nguyên nhân đó khiến cho các mối quan hệ trong gia đình có nhiều rạn nứt và tan vỡ, đòi hỏi cần phải xây dựng một mối quan hệ giữa ông bà- con cháu ngày càng tốt đẹp hơn.

Thêm nữa, các gia đình chưa thật sự quan tâm đúng mức đến việc giáo dục các giá trị truyền thống cho con em mình. Nền tảng đạo đức, chuẩn mực gia đình có nguy cơ bị phá vỡ. Hàng loạt vấn đề xã hội đã nảy sinh, len lỏi vào từng gia đình và trở thành những bức xúc của gia đình.

Hiện tượng “nhiễu loạn giá trị gia đình” xuất hiện.

III. GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG GIA ĐÌNH

Cần đẩy mạnh tuyên truyền thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Chính phủ về văn hóa, gia đình:  Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Chỉ thị số 49/CT-TW, ngày 21/2/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 27-4-2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em, Luật Phòng chống bạo lực gia đình và các luật khác có liên quan đến gia đình.

Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tuyên truyền tầm quan trọng giữ gìn các giá trị chuẩn mực văn hóa gia đình Việt Nam trong giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội hiện, ý thức được xây dựng gia đình hạnh phúc không chỉ là việc riêng của mỗi nhà mà còn là trách nhiệm của cả xã hội. Gia đình no ấm, hạnh phúc, bình đẳng, tiến bộ góp phần tạo nên sức mạnh của đất nước.

Cần có những nghiên cứu phân tích sâu sắc tác động của nền kinh tế thị trường đến các mối quan hệ gia đình ở Việt Nam đang có những biến đổi sâu sắc. Phân tích để thấy bên cạnh sự phân giải của những giá trị văn hóa gia đình truyền thống, sự du nhập của những quan niệm và nhận thức về gia đình từ bên ngoài, cần hình thành được một cách vững chắc những giá trị và chuẩn mực mới trong các mối quan hệ gia đình tạo ra “những nhiễu loạn giá trị”. Từ đó, cần khắc phục những nhiễu loạn giá trị trong quan hệ gia đình phù hợp với xã hội công nghiệp và những quy chuẩn về kinh tế - xã hội của xã hội.

Cần phải dựa trên những chuẩn mực cao nhất về tính nhân đạo trong việc định hướng sự phát triển của gia đình và các mối quan hệ gia đình. Phát huy vị trí và vai trò của gia đình đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước và chủ động xây dựng những chuẩn mực và giá trị gia đình mới phù hợp với xã hội hiện đại, làm cho văn hóa ứng xử trong gia đình mãi là một nét đẹp của người dân đất Việt, góp phần cho văn hóa dân tộc thăng hoa[5].

Có thể nói, ứng xử văn hóa trong gia đình chính là nét đẹp lâu đời, một nét đẹp truyền thống của dân tộc việt Nam: Sự hoà thuận, chung thuỷ, tình nghĩa, lòng yêu thương và hy sinh cho con cái, tôn trọng và hiếu đễ với cha mẹ, anh em. Nhiều gia đình luôn biết cách tạo dựng, giữ gìn những nét văn hóa ứng xử ấy tạo nên nề nếp gia phong.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình cơ sở văn hóa Việt Nam – Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2008

2. Văn hóa ứng xử trong gia đình (CINET)

3. Văn hoá gia đình trong thời kì CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế

4. Văn hoá gia đình Việt Nam và sự phát triển xã hội (Lê Minh chủ biên). 1994.. Hà Nội. Nxb Lao động.6

5. Chỉ thị số 49/CT-TW, ngày 21/2/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

6. Đề tài “Nghiên cứu đặc thù của gia đình Việt Nam truyền thống để xây dựng gia đình Việt Nam trong giai đoạn CNH, HĐH” của Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, 2006

7. Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 27-4-2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

8. Lê Quý Đức (Chủ biên) - Phẩm chất phụ nữ Việt Nam: Truyền thống và hiện đại, Nxb Chính trị-hành chính, 2013

 


[1] Chỉ thị số 49/CT-TW, ngày 21/2/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

[2] Chỉ thị số 49/CT-TW, ngày 21/2/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

[3] Chỉ thị số 49/CT-TW, ngày 21/2/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

[4] Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 27-4-2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

[5] Theo: CINET

 

 

Chuyên mục tin: