Một số vấn đề về công tác nắm bắt tình hình tư tưởng phụ nữ và định hướng dư luận xã hội

Một số vấn đề về công tác nắm bắt tình hình tư tưởng phụ nữ và định hướng dư luận xã hội

Ban Tuyên Giáo - Hội LHPN tỉnh Bắc Giang

I. CÔNG TÁC NẮM BẮT TÌNH HÌNH TƯ TƯỞNG PHỤ NỮ

Trong những năm qua các cấp Hội phụ nữ trong toàn tỉnh đã thường xuyên quan tâm, sâu sát cơ sở để nắm tình hình tư tưởng trong các tầng lớp phụ nữ về đời sống, nhu cầu, nguyện vọng, để kịp t hời phản ánh, kiến nghị, đề xuất và tham gia giải quyết có hiệu quả những vấn đề phát sinh, đáp ứng nguyện vọng của phụ nữ. Nhất là trong quá trình xây dựng các văn kiện Đại hội đại biểu phụ nữ các cấp nhiệm kỳ 2011-2016, trong thực hiện CVĐ “Xây dựng Gia đình 5 không, 3 sạch”, trong vận động phụ nữ tham gia xây dựng nông thôn mới, xây dựng đô thị văn minh.... Đó là các vấn đề liên quan đến nhu cầu học tập nâng cao kiến thức về mọi mặt, vấn đề gia đình, lao động việc làm, giảm nghèo, xóa nhà tạm, phát triển kinh tế nâng cao chất lượng cuộc sống...Qua đó, tạo niềm tin và động lực thi đua trong cán bộ, hội viên, phụ nữ.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ công tác nắm bắt tư tưởng và công tác tuyên truyền của các cấp Hội phụ nữ vẫn còn có những hạn chế nhất định như: một số nơi khi có vấn đề phát sinh, chưa nắm bắt, phản ánh tư tưởng của phụ nữ kịp thời, thiếu thông tin định hướng tư tưởng; công tác tuyên truyền chưa thường xuyên, chất lượng tuyên truyền của một số cán bộ Hội chưa đáp ứng yêu cầu, do đó một số vấn đề phát sinh nhu cầu nguyên vọng chính đáng chậm được giải quyết...dẫn đến tình trạng một số nơi khiếu kiện đông người gây mất tật tự xã hội ở địa phương.

Trong thời gian tới, để khắc phục những tồn tại nêu trên, các cấp Hội cần chú ý tập trung vào một số nhiệm vụ như sau:

Một là, tăng cường công tác nắm bắt, phản ánh, dự báo tình hình tư tưởng, dư luận trong cán bộ, hội viên, phụ nữ tại cơ sở, nhất là trên các lĩnh vực lao động, việc làm, công tác quy hoạch, đầu tư thực hiện các chương trình, đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; việc thu hồi đất, đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư, khai thác tài nguyên…; các chủ trương, phong trào, các cuộc vận động do Hội LHPN phát động triển khai; nêu rõ những hiện tượng tích cực, tiêu cực mới nảy sinh trong cán bộ, hội viên, phụ nữ…để phản ánh với cấp uỷ Đảng, chính quyền cùng cấp và Hội phụ nữ cấp trên trực tiếp để có biện pháp tuyên truyền, vận động, góp phần hạn chế tình trạng phụ nữ tham gia khiếu kiện đông người ở các địa phương.

 

Nắm bắt, phản ánh, dự báo tình hình tư tưởng, dư luận của cán bộ, hội viên, phụ nữ trước các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; những sự kiện chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa, thể thao, đối ngoại trong nước và quốc tế; các biểu hiện tiêu cực trong xã hội. Phát hiện, lên án các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch qua sách, báo, văn hóa phẩm phản động; phát thanh, truyền hình, mạng internet…có biểu hiện lợi dụng, lôi kéo, kích động lấy phụ nữ làm tâm điểm.

Hai là, chú trọng phương pháp để thu thập các ý kiến, thái độ, hành vi thể hiện tâm tư, nguyện vọng của phụ nữ, đó là sử dụng kết hợp các kỹ năng trong quá trình thu thập các ý kiến, nguyện vọng của phụ nữ như:

- Gặp gỡ, tiếp xúc trực tiếp, thảo luận, trao đổi ý kiến với cá nhân hội viên phụ nữ hoặc với nhóm, thông qua sinh hoạt chi/tổ phụ nữ hoặc qua hoạt động thăm hỏi tại hộ gia đình.

- Khuyến khích hội viên, phụ nữ phát biểu, bày tỏ ý kiến và cán bộ Hội trực tiếp lắng nghe, trao đổi trong các buổi sinh hoạt chi/tổ phụ nữ. Các ý kiến, đánh giá, quan điểm, thái độ... sẽ giúp cho cán bộ Hội cơ sở có căn cứ để xác định các vấn đề bức xúc và tâm tư, nguyện vọng cần được giải quyết của phụ nữ ở địa phương. Khi các ý kiến, nguyện vọng của phụ nữ bày tỏ chưa rõ ràng, cán bộ Hội chưa hiểu chính xác nguyện vọng của chị em thì nên sử dụng biện pháp đặt câu hỏi, nhưng câu hỏi phải cụ thể, dễ hiểu, khai thác các thông tin giải thích về nguyên nhân vấn đề bức xúc cần giải quyết của phụ nữ; đồng thời quan sát trực tiếp công khai hoặc bí mật các cá nhân, nhóm và cộng đồng về các biểu hiện, các phản ứng, thái độ, tình cảm trong quá trình giao tiếp, giúp việc xác định tâm tư, nguyện vọng của phụ nữ chính xác hơn.

Sau khi thu thập các luồng ý kiến thể hiện tâm tư, nguyện vọng của hội viên, phụ nữ ở cơ sở, cán bộ Hội cần phân tích, xử lí các thông tin để xác định và phân loại tâm tư:

- Tâm tư, nguyện vọng chính đáng của phụ nữ cần đề xuất giải quyết;

- Tâm tư, nguyện vọng không chính đáng, cần có biện pháp uốn nắn, điều chỉnh, tâm tư, nguyện vọng bức xúc cần giải quyết cấp bách, kịp thời;

- Tâm tư, nguyện vọng cần có thời gian nghiên cứu giải quyết lâu dài;

- Tâm tư, nguyện vọng của đa số hoặc thiểu số;

- Tâm tư, nguyện vọng của cá nhân hoặc nhóm…

Ba là, tập trung tuyên truyền, định hướng tư tưởng trong cán bộ, hội viên, phụ nữ. Chú trọng tuyên truyền chủ trương của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước có liên quan đến phụ nữ; nhiệm vụ phát triển kinh tế -xã hội, quốc phòng, an ninh của địa phương. Đặc biệt phối hợp với chính quyền thực hiện tốt việc tuyên truyền chủ trương, kế hoạch về công tác quy hoạch, đầu tư thực hiện các dự án phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh; công khai các phương án thu hồi đất, đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư, khai thác tài nguyên, khoáng sản…để cán bộ hội viên biết, tham gia thực hiện tốt và giám sát việc tổ chức thực hiện của chính quyền.

Tăng cường giáo dục truyền thống, khơi dậy lòng tự hào, tinh thần yêu nước, truyền thống lịch sử; bồi dưỡng, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng; góp phần củng cố tăng cường niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, vượt qua khó khăn, nắm bắt thời cơ, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Quan tâm công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, phẩm chất đạo đức cho phụ nữ, lồng ghép tuyên truyền giáo dục giác ngộ chính trị với chăm lo lợi ích của hội viên, phụ nữ.

Tích cực tuyên truyền đấu tranh, phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch xuyên tạc, phủ nhận thành quả cách mạng của Đảng và nhân dân ta; tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên, hội viên, phụ nữ nâng cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh với các thế lực thù địch đang lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo chống phá công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tổ chức tuyên truyền trực tiếp qua các buổi sinh hoạt phụ nữ tại khu dân cư; tổ chức các hoạt động truyền thông theo chuyên đề, cung cấp các thông tin chính thống của Đảng và Nhà nước…;chú trọng truyền thông trực tiếp tại cộng đồng theo các nhóm đối tượng (phụ nữ cao tuổi, dân tộc, tôn giáo, đồng bằng, miền núi, hải đảo). Tuyên truyền, biểu dương, cổ vũ nhân rộng những tập thể tiêu biểu, các cá nhân gương mẫu trong triển khai, thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng; trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 03- CT/TW của Bộ Chính trị. Tiếp tục tuyên truyền kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; phổ biến, giới thiệu những kinh nghiệm, điển hình tiên tiến trên mọi lĩnh vực.

Bốn là, chỉ đạo, phân công cán bộ phụ trách việc thực hiện theo dõi, tổng hợp việc nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội trong cán bộ, hội viên, phụ nữ tại cơ sở; xây dựng mạng lưới cộng tác viên, hội viên nòng cốt (trong phụ nữ dân tộc, tôn giáo) nắm và cung cấp các thông tin về các tầng lớp phụ nữ; kiện toàn, nâng cao năng lực đội ngũ TTV làm nhiệm vụ thu nhận thông tin dư luận ở cơ sở, gồm những người có nhiệt tình, trách nhiệm, phẩm chất chính trị vững vàng, có trình độ tiếp thu, xử lý thông tin. Việc phản ánh tình hình tư tưởng, dư luận xã hội trong cán bộ, hội viên, phụ nữ, những vấn đề nổi cộm phát sinh phải thường xuyên phản ánh thông qua các buổi giao ban hàng tuần, trực báo hàng tháng, hoặc báo cáo đột xuất qua điện thoại, email…Trường hợp đột xuất nảy sinh “điểm nóng” các vụ việc, như: biểu tình, khiếu kiện đông người, vấn đề phức tạp, nhạy cảm có liên quan đến phụ nữ, cần kịp thời xác minh và có hình thức báo cáo nhanh với cấp ủy, chính quyền, hoặc các ngành có thẩm quyền và Hội phụ nữ cấp trên trực tiếp.

Tổng hợp (báo cáo nhanh/ báo cáo định kỳ); nội dung báo cáo cần tập trung thể hiện rõ: Tâm tư, nguyện vọng về vấn đề gì? Chủ thể của tâm tư, nguyện vọng là ai? Số lượng người có cùng tâm tư, nguyện vọng là bao nhiêu? Tính chất của tâm tư, nguyện vọng đó như thế nào? Dự báo/phán đoán xu hướng/khả năng phát triển của tâm tư, nguyện vọng đó nếu không được giải quyết sẽ gây nên điều gì ? đề xuất biện pháp cụ thể…

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DƯ LUẬN XÃ HỘI

1. Khái niệm dư luận xã hội

Dư luận xã hội là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự liên quan đến lợi ích, các mối quan tâm của nhiều người.

* Một số lưu ý:

- Mỗi luồng ý kiến là một tập hợp các ý kiến cá nhân giống nhau;

- Dư luận xã hội có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau.

- Luồng ý kiến có thể rộng (tuyệt đại đa số, đa số, nhiều ý kiến) hoặc hẹp (một số ý kiến).

- Dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến cá nhân, tự phát, chứ không phải là ý kiến của một tổ chức, được hình thành theo con đường tổ chức (hội nghị, hội thảo…).

- Dư luận xã hội không phải là một phép cộng các ý kiến cá nhân, tự phát mà là một chỉnh thể tinh thần xã hội, thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí của các lực lượng xã hội nhất định.

- Chỉ có những sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội có tính thời sự, liên quan đến lợi ích, các mối quan tâm hiện có của nhiều người mới có khả năng tạo ra dư luận xã hội.

2. Các thuộc tính của dư luận xã hội

- Khuynh hướng: Là thái độ của dư luận xã hội thiên về một phía nào đó đối với mỗi sự kiện, hiện tượng; gồm các khuynh hướng chủ yếu: tán thành, phản đối hay băn khoăn, lưỡng lự, chưa rõ thái độ. Cũng có thể phân chia dư luận theo các khuynh hướng như tích cực, tiêu cực; tiến bộ, lạc hậu, “cấp tiến”, “bảo thủ”…

- Cường độ: Là độ mạnh, sức căng của mỗi khuynh hướng. Ví dụ, khuynh hướng phản đối có thể biểu hiện ở các sức căng khác nhau: phản đối gay gắt; phản đối, nhưng không gay gắt…

- Sự thống nhất và xung đột của dư luận xã hội: Theo các nhà xã hội học, đồ thị phân bố dư luận xã hội hình chữ U (có hai luồng ý kiến chính, trái ngược nhau, tỷ lệ ủng hộ mỗi luồng ý kiến này ngang bằng hoặc xấp xỉ nhau) biểu thị sự xung đột, hình chữ L (trong số các luồng ý kiến, nổi lên một luồng ý kiến được đa số ủng hộ) biểu thị sự thống nhất cao.

- Tính bền vững: Có những dư luận xã hội chỉ qua một đêm là thay đổi, nhưng cũng có những dư luận hàng chục năm không thay đổi.

- Sự tiềm ẩn: Dư luận xã hội về những vấn đề của cuộc sống xã hội có thể ở trạng thái tiềm ẩn, không bộc lộ bằng lời.

3. Chức năng của dư luận xã hội

- Chức năng đánh giá: Dư luận xã hội thể hiện thái độ phán xét, đánh giá của công chúng đối với các sự kiện, hiện tượng, sự vật, vấn đề cuộc sống…

- Chức năng điều tiết các mối quan hệ xã hội:Dư luận xã hội rất nhạy cảm với các hành vi xâm phạm lợi ích chung, lợi ích của toàn xã hội nhất là hành vi của các phần tử, các nhóm cực đoan, lên án kịp thời và gay gắt các hành vi này; quan tâm đến các hành vi có lợi cho toàn xã hội, kịp thời cổ vũ các cá nhân, nhóm xã hội, thực hiện các hành vi này.

- Chức năng giáo dục của dư luận xã hội: Bằng sự khen, chê, khuyên can kịp thời đối với các hành vi phù hợp hoặc không phù hợp với lợi ích, các giá trị xã hội, nhất là các giá trị đạo đức, luân lý, dư luận xã hội có vai trò rất lớn trong việc giáo dục cho các thế hệ ý thức về sự phải-trái, đúng-sai, thiện-ác, đẹp-xấu.

- Chức năng giám sát:Dư luận xã hội có vai trò giám sát hoạt động của nhà nước và các tổ chức xã hội, gây sức ép lớn đối với tệ tham nhũng, quan liêu, tắc trách.

- Chức năng tư vấn, phản biện:Trước những vấn đề nan giải của đất nước, địa phương dư luận xã hội có thể đưa ra những khuyến nghị sáng suốt mà các cơ quan tham mưu cho chính quyền có thể chưa nghĩ ra được. Dư luận xã hội cũng có khả năng đưa ra các ý kiến phản biện xác đáng đối với các quyết định của các cơ quan đảng, chính quyền, tổ chức chính trị-xã hội.

- Chức năng giải toả tâm lý xã hội:Sự bất bình, các nỗi oan ức của con người, nếu không được giãi bày, nói ra có thể trở thành những mầm mống bệnh hoạn nghiêm trọng về tinh thần. Sự giãi bày, bày tỏ thành lời có thể giải toả nỗi bất bình, uất ức của con người.

4- Phân biệt giữa dư luận xã hội và tin đồn

- Giống nhau về hình thức thể hiện:

+ Đều là những kết cấu tinh thần; tâm lý đặc trưng cho những nhóm xã hội nhất định.

+ Có chung nguồn gốc xuất phát từ sự kiện có thật.

+ Đều lan truyền nhanh và dễ biến dạng.

- Khác nhau:

 

DƯ LUẬN XÃ HỘI

TIN ĐỒN

- Về nguồn gốc:

Xuất phát từ sự kiện có thật nên mức độ sự thật nhiều hơn.

- Xuất phát từ sự kiện có thật bị làm méo mó đi, hoặc do chủ thể truyền tin tưởng tượng ra nên mức độ sự thật rất ít.

- Về cơ chế hình thành:

Được hình thành thông qua giao tiếp, trao đổi, tranh luận giữa các cá nhân: quan điểm cá nhân chỉ là một ý kiến trong ý kiến chung.

- Bị nhào nặn hoặc bị bóp méo bởi khuynh hướng cá nhân người truyền tin.

- Về phương thức lan truyền:

Lan truyền bằng lời nói, chữ viết theo đường chính thức, không chính thức công khai, bí mật.

- Lan truyền bằng miệng là chính, theo con đường chính thức, không chính thức, bí mật.

- Về bản chất:

Là sự phán xét đánh giá chung, biểu thị thái độ đồng tình hay phản đối của đại đa số trong cộng đồng đối với sự kiện, hiện tượng.

Chỉ là thông tin đơn thuần về sự việc hiện tượng theo lối mô tả, kể lại.

III. PHƯƠNG PHÁP NẮM BẮT VÀ ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN XÃ HỘI THÔNG QUA TTV/HV NÒNG CỐT

1. Nắm bắt DLXH

1.1. Nội dung yêu cầu

Nắm bắt dư luận xã hội thông qua tuyên truyền viên/hội viên nòng cốt là một hình thức thu thập thông tin dư luận xã hội chủ yếu hiện nay. Để nắm bắt dư luận xã hội qua tuyên truyền viên/hội viên nòng cốt, cần tiến hành các bước:

(1) Xây dựng mạng lưới TTV/HV nòng cốt;

(2) Có quy chế hoặc quy định về nguyên tắc, nội dung, thời gian hoạt động;

(3) Duy trì hoạt động TTV/HV nòng cốt ;

(4) Tổng hợp thông tin, viết báo cáo nhanh tình hình dư luận phản ánh từ mạng lưới TTV/HV nòng cốt

Yêu cầu đối với TTV/HV nòng cốt, ngoài những phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị phải là người có kỹ năng giao tiếp, am hiểu tâm tư, nguyện vọng của hội viên, phụ nữ.

1.2. Nhiệm vụ và quyền hạn của TTV/HV nòng cốt

- Nhiệm vụ chủ yếu: Kịp thời nắm bắt và phản ánh dư luận của các tầng lớp phụ nữ trước các sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội; tham gia định hướng dư luận xã hội; tham gia triển khai các cuộc điều tra dư luận xã hội.

- Quyền hạn: Được phản ánh trực tiếp cho BTV Hội LHPN cơ sở những thông tin mà mình nắm được; có thể đề nghị được gặp các cấp uỷ, Ban công tác mặt trận các thôn, TDP, các đoàn thể và gặp gỡ các đối tượng hội viên, phụ nữ và nhân dân trên địa bàn để thu thập DLXH; có quyền cung cấp hoặc không cung cấp tên người phản ánh thông tin cho mình.

  • Phương thức hoạt động: TTV/HV nòng cốt phản ánh thông tin thông qua các hình thức: trao đổi trực tiếp, qua điện thoại hoặc báo cáo bằng văn bản (đột xuất và theo định kỳ)

1.3. Điều hành hoạt động của mạng lưới TTV/HV nòng cốt

- Duy trì giao ban theo định kỳ:

+ Thông tin cho TTV/HV nòng cốt những vấn đề có tính thời sự mà họ cần biết để nắm và định hướng dư luận xã hội.

+ Phản ánh dư luận của TTV/HV nòng cốt: Các TTV/HV nòng cốt phản ánh những dư luận nổi lên mà họ nắm được.

- Phản ánh thông qua hình thức báo cáo bằng văn bản

- Duy trì hình thức phản ánh nhanh qua điện thoại: Cần chủ động gọi điện cho TTV/HV nòng cốt để nắm bắt nhanh dư luận về những vấn đề, sự kiện, hiện tượng mà dư luận xã hội quan tâm.

- Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ TTV/HV nòng cốt: Chủ động tổ chức các lớp bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ TTV/HV nòng cốt. Tổ chức giao lưu trao đổi, học hỏi, toạ đàm rút kinh nghiệm về chuyên môn nắm bắt dư luận xã hội cho TTV/HV nòng cốt.

Bổ sung, luôn phiên, thay thế TTV/HV nòng cốt: Trong quá trình hoạt động, có biến động về TTV/HV nòng cốtcần kịp thời thay thế, bổ sung.

Tổng kết, sơ kết hoạt động của mạng lưới cộng tác viên: Hàng năm, nên tiến hành hội nghị sơ kết và tổng kết biểu dương khen thưởng các cộng tác viên hoạt động tích cực, có hiệu quả, nhắc nhở cộng tác viên hoạt động kém hiệu quả.

- Tổng hợp thông tin, viết báo cáo nhanh tình hình dư luận xã hội phản ánh từ mạng lưới cộng tác viên

+ Báo cáo phải ngắn gọn, cô đọng, gồm 2 phần: phần phản ánh dư luận xã hội và phần đề xuất kiến nghị định hướng dư luận xã hội. Phần phản ánh, nêu các dư luận tích cực trước, các dư luận “trái tai”, “gai góc”, không thuận được trình bày sau;

+ Nêu được những thông tin dư luận một cách đầy đủ, nhiều chiều, không bỏ sót luồng ý kiến nào, kể cả của nhóm thiểu số trong xã hội;

+ Làm rõ mức độ phổ biến của dư luận xã hội, nắm bắt phản ánh một cách tương đối như: luồng dư luận đó là ý kiến của một số nhỏ, một bộ phận khá đông hay của đa số trong xã hội (hoặc trong một cộng đồng, nhóm xã hội);

+ Cần làm rõ chủ thể chủ yếu của mỗi luồng dư luận xã hội, thường là các tầng lớp, nhóm xã hội có sự tương đồng về nhận thức hoặc lợi ích trước các sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội.

2. Phương pháp định hướng dư luận xã hội

Hoạt động định hướng dư luận xã hội là việc sử dụng các phương thức thông tin nhất định tác động vào các nhóm vấn đề mang tính thời sự.

Mục đích của định hướng dư luận xã hội là góp phần điều chỉnh hành vi, hướng tới làm thay đổi thái độ, nhận thức và hành động của các nhóm xã hội theo hướng có lợi cho một giai cấp nhất định. Vì vậy định hướng dư luận xã hội là một trong những hoạt động lãnh đạo chỉ đạo quan trọng thuộc về giai cấp và mang tính giai cấp.

Ở nước ta việc định hướng dư luận xã hội được thực hiện nhằm hướng tới mục tiêu và lý tưởng XHCN, hướng tới hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế xã hội của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Công tác định hướng dư luận xã hội ở nước ta hiện nay đang có nhiều thuận lợi thể hiện ở chỗ bầu không khí dân chủ mở rộng ngày càng được nâng cao, sự đồng lòng, nhất trí trong các tầng lớp nhân dân đối với các chủ trương, đường lối của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước được thể hiện rất rõ nét, những thành tựu tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục, y tế, ngoại giao, khoa học kỹ thuật đang tạo ra những động lực mới cho sự phát triển toàn diện, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức đoàn thể quan trọng hơn, có uy tín ngày càng cao trong đời sống nhân dân. Báo chí, các phương tiện truyền thông đại chúng, các ấn phẩm, xuất bản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú tạo điều kiện chủ động thông tin cho mọi người dân trong quá trình học tập, lao động và sản xuất.

Bên cạnh đó công tác định hướng dư luận xã hội trong giai đoạn hiện nay cũng gặp không ít những khó khăn, đặc biệt dưới sự tác động của kinh tế thị trường, lối sống cá nhân ích kỉ, vụ lợi xuất hiện và đang len lỏi, thâm nhập vào các cá nhân, các nhóm xã hội. Sự phân tán về tư tưởng có dấu hiệu gia tăng, sự phân hoá về mức sống, về quan điểm, tư tưởng trong các nhóm xã hội, các giai tầng xã hội đang là nguyên nhân tạo ra sự khác biệt trong nội bộ các nhóm, các tổ chức xã hội.

Việc sử dụng đội ngũ cộng tác viên, tuyên truyền viên, báo cáo viên và những người có uy tín trong cộng đồng trong những năm qua đã đạt được những kết quả rất quan trọng song vẫn còn nhiều điểm hạn chế về cơ chế đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, bản lĩnh chính trị; về chất lượng và hiệu quả của công tác thông tin tuyên truyền; về trình độ, năng lực và kinh nghiệm trong quá trình nắm bắt, phản ánh, định hướng các luồng dư luận xã hội cũng đang là những vấn đề cần xem xét, đối mới cho phù hợp với thực tiễn hơn.

 

Trong giai đoạn hiện nay, việc nâng cao hiệu quả công tác thông tin, định hướng dư luận xã hội là rất quan trọng và cần thiết. Để làm được điều đó, công tác định hướng dư luận trong các cấp Hội phụ nữ cần phải chú trọng đến những vấn đề sau:

Thứ nhất: Trước hết, BTV, BCH Hội LHPN các cấp phải nắm bắt kịp thời các sự kiện, hiện tượng mang tính thời sự liên quan đến quyền, lợi ích của các tầng lớp phụ nữ cũng như nắm bắt và làm chủ được dư luận xã hội về sự kiện, hiện tượng đó để làm cơ sở cho việc định hướng dư luận xã hội.

Thứ hai: Đánh giá khách quan hệ quả và sự tác động của báo chí, các phương tiện truyền thông đại chúng đối với các nhóm đối tượng phụ nữ và dự báo được những phát sinh từ hệ quả tác động của báo chí. Những tình huống có thể phát sinh bao gồm cả những phản ánh tích cực hay phản ánh tiêu cực, đồng thuận hay không đồng thuận, ủng hộ hay phản đối … về một nôi dung thông tin nào đó được cung cấp đến công chúng .

Thứ 3: Định hướng dư luận xã hội cũng là việc minh bạch hoá các nguồn thông tin, hạn chế nhận thức sai lệch và loại bỏ tin đồn thất thiệt trong xã hội. Điều này cũng đòi hỏi đội ngũ công tác viên, tuyên truyền viên, báo cáo viên và những người có uy tín trong cộng đồng phải có năng lực nhất định trong việc phân tích đánh giá, phán xét các sự kiện xã hội, phân biệt rõ giữa DLXH và tin đồn cũng như những tác động tiêu cực của tin đồn trong đời sống xã hội. Nâng cao khả năng dự báo, tham mưu trong quá trình nắm bắt dư luận xã hội./.

 

 

Chuyên mục tin: